PHÒNG GD&ĐT THÁI THỤY

Sunday, 15/12/2019 - 04:10|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Thái Hòa

Chuyên đề tích hợp kỹ năng sống trong truyện ngụ ngôn

TÍCH HỢP LỒNG GHÉP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG TRUYỆN NGỤ NGÔN

 

"THẦY BÓI XEM VOI", "ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG”

Hiện nay, nội dung giáo dục kĩ năng sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy cho học sinh các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau. Chương trình hành động Dakas về Giáo dục cho mọi người (Senegal-2000) đã đặt ra cho người học được tiếp cận với chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp và kĩ năng sống cần được coi như là một nội dung của chất lượng giáo dục.

Ở Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng nhu cầu phát triển của người học và nhu cầu hội nhập quốc tế, và nhằm tiếp cận kĩ năng : Học để biết, học để làm, học để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống, giáo dục phổ thông đã và đang từng bước đổi mới theo hướng từ chủ yếu là trang bị kiến thức sang trang bị những năng lực cần thiết cho học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh. Nhận thức rõ tầm quan trọng, cần thiết của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông nói chung, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa nội dung giáo dục kĩ năng sống lồng ghép trong các môn học và hoạt động giáo dục ở các cấp học.

Nội dung giáo dục kĩ năng sống trong các nhà trường phổ thông được tích hợp trong các môn học nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp; tạo cơ hội thuận lợi cho học sinh phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức. Bên cạnh đó, giáo dục kĩ năng sống cũng là nội dung được đông đảo phụ huynh, dư luận quan tâm bởi đây là một chương trình giáo dục hết sức cần thiết đối với học sinh. Đặc biệt, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được xác định là một trong những nội dung cơ bản của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường phổ thông hiện nay.

 Thực tế hiện nay, có một bộ phận nhỏ học sinh trong các trường thiếu hụt hiểu biết về môi trường xung quanh, lúng túng khi ứng xử trong cuộc sống. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong hành vi, lối sống đạo đức của nhiều học sinh. Bởi lứa tuổi học sinh là lứa tuổi đang hình thành những giá trị nhân cách, giàu ước mơ, ham hiểu biết, thích tìm tòi, khám phá song còn thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo, kích động…. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường hiện nay, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực có, tiêu cực cũng có. Nếu không được giáo dục kĩ năng sống, thiếu kĩ năng sống, các em dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, vào lối sống ích kỉ, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc nhân cách. Vì vậy, việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh là điều cần thiết. Với đối tượng là học sinh Trung học cơ sở, đặc biệt là học sinh lớp 6, các em vừa chuyển từ cấp Tiểu học lên, bắt đầu một chu trình mới thì việc giáo dục kĩ năng sống là điều vô cùng hệ trọng để ngay từ năm đầu cấp học này, các em sẽ được trang bị những kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng để phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức.

Phần truyện ngụ ngôn trong chương trình Ngữ văn 6 là một kho kĩ năng sống nếu người giáo viên biết cách khai thác. Mặc dù, dạy truyện ngụ ngôn tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 6 tương đối khó. Nhưng, với sự chuẩn bị kĩ lưỡng bài dạy, nghiên cứu, tìm tòi bước đầu, giáo viên có thể thực hiện khá tốt trong một số giờ dạy học, giúp các em không chỉ nắm được kiến thức cơ bản trong bài mà còn rèn thêm một số kỹ năng và có thái độ yêu thích môn Văn, tạo được những sản phẩm nhất định từ các kĩ năng học được.

Việc tích hợp lồng ghép giảng dạy kĩ năng sống trong giờ dạy được thực hiện một cách linh hoạt tùy vào từng văn bản. Dạy đến nội dung nào có khả năng liên hệ đến kĩ năng sống, giáo viên có thể rút ra kết luận hoặc gợi mở để học sinh nhận thấy kĩ năng sống đó. Cũng có thể, bằng một số câu hỏi gợi mở, giáo viên có thể giúp học sinh rút ra được những kĩ năng như: Kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm chủ bản thân, kĩ năng ứng phó với tình huống căng thẳng. Kĩ năng sống cũng có thể được tích hợp trong phần luyện tập, củng cố cuối bài. Sau khi đã giảng xong nội dung chính của bài, giáo viên có thể gợi mở để học sinh từ đó rút ra các kĩ năng sống có liên quan.

Chủ đề truyện ngụ ngôn trong chương trình Ngữ văn 6, có 4 văn bản "ếch ngồi đáy giếng", "thầy bói xem voi", "đeo nhạc cho mèo", "Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng". Thông qua quá trình giảng dạy, giáo viên có thể tích hợp lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, cụ thể qua hai văn bản: "ếch ngồi đáy giếng", "thầy bói xem voi".

1. Đứng trước một vấn đề mà mỗi người có một ý kiến khác nhau, ai cũng cho là mình đúng như tình huống trong chuyện, em sẽ làm gì để vừa có thể giải quyết được mục đích của vấn đề, vừa kiềm chế được bản thân, lắng nghe ý kiến của người khác và thống nhất kết quả? Đến với, truyện ngụ ngôn “Thầy bói xem voi”, giáo viên cũng có thể rút ra các bài học ý nghĩa về kĩ năng sống như trên, cụ thể:

Kĩ năng giao tiếp: Năm ông thầy bói vì không biết lắng nghe nhau, ai cũng cho là mình đúng và người khác sai nên cuối cùng đánh nhau "toác đầu chảy máu" mà hình thù con voi vẫn chưa tường tận. Bài học Kĩ năng sống rút ra đó là khi giao tiếp cần biết lắng nghe, chia sẻ,bày tỏ quan điểm của mình nhưng khi trao đổi, tranh luận cần tránh xung đột mới đạt được kết quả giao tiếp tốt.

Kĩ năng làm chủ bản thân: Trong cuộc tranh luận và miêu tả con voi, thầy bói nào cũng cho rằng “con voi” của mình là đúng, vì không kiềm chế được bản thân nên cuộc xô xát đã diễn ra. Bài học Kĩ năng đó là cần kiềm chế bản thân, tích cực học hỏi để nâng cao tri thức cho tương xứng với công việc, biết giữ mình để tạo ra sự đoàn kết và đồng thuận từ mọi người.

Kĩ năng hợp tác: Truyện "Thầy bói xem voi" là một trong những bài học về sự hợp tác. Rõ ràng, mỗi thầy chỉ xem có một bộ phận của con voi, nếu biết “ ghép” lại với nhau thì sẽ ra một con voi hoàn chỉnh, nhưng vì thiếu sự hợp tác nên không đạt được mục tiêu là biết con voi, lại còn dẫn đến mất đoàn kết. Bài học Kĩ năng sống là cần bắt tay nhau trong công việc, vì một mục đích chung, biết đưa ra ý tưởng của bản thân nhưng cũng cần lắng nghe ý kiến của người khác, tôn trọng lẫn nhau, không ích kỉ, cố chấp.

Kĩ năng ứng phó với tình huống căng thẳng: Sự căng thẳng sẽ làm người ta mất tập trung vào công việc hoặc hủy diệt một phần cuộc sống. Trong truyện năm ông thầy bói cố chấp, tranh cãi nhau dẫn tới căng thẳng và cuối cùng là xô xát, đánh nhau. Bài học Kĩ năng sống rút ra được đó là cần có cái nhìn tích cực hơn, biết kiềm chế bản thân, suy nghĩ tích cực để giảm bớt căng thẳng, thậm chí có thể lựa chọn cách rút lui, chuyển hướng suy nghĩ, thương lượng, tâm sự với người khác …để giải tỏa.

Kĩ năng thương lượng: Sự cố chấp, ai cũng cho là mình đúng còn các thầy khác đều không đúng, không phải nên năm ông thầy bói cuối cùng vẫn chả biết được con voi. Kĩ năng thương lượng rút ra qua truyện đó là cần biết lắng nghe, đặt mình vào vị trí của người đối diện, cần có thái độ mềm mỏng, sáng suốt và trong từng trường hợp cụ thể cũng cần có tính quyết đoán.

2. Trong truyện ngụ ngôn “Ếch ngồi đáy giếng”, đó là kỹ năng giao tiếp; kĩ năng tự nhận thức bản thân; kĩ năng xác định giá trị và kĩ năng tư duy sáng tạo.

Kĩ năng giao tiếp: Con ếch trong câu chuyện có thái độ huênh hoang, nghĩ mình là chúa tể, coi thường những con vật bé nhỏ sống xung quanh. Chính thái độ ứng xử này trong giếng đã tạo thành thói quen nên khi ra khỏi giếng, vẫn giữ cách ứng xử, giao tiếp như vậy mà nó đã bị trâu giẫm bẹp. Bài học Kĩ năng rút ra, đó là cần có thái độ ứng xử đúng mực, biết cảm thông, quan tâm đến người khác sẽ được mọi người tin tưởng, yêu quý.

Kĩ năng tự nhận thức bản thân: Con ếch chỉ sống trong giếng, thấy mình là lớn nhất nên tưởng là chúa tể, nó không biết rằng trong cuộc sống rộng lớn thì nó chỉ là một con vật bé nhỏ, tầm thường. Vì không biết mình, biết hoàn cảnh nên nó đã phải trả giá đắt. Bài học Kĩ năng sống rút ra là cần biết mình, hiểu mình, xác định những cảm xúc, nhu cầu, đặc điểm… của bản thân để có cách ứng xử tích cực với cuộc sống.

Kĩ năng xác định giá trị: Con ếch tự đề cao bản thân, có tính huênh hoang, tự kiêu, nó đã “phát huy” không đúng lúc tính cách của mình nên phải chết. Bài học Kĩ năng sống là cần xác định điểm mạnh của bản thân để phát huy nhưng cũng phải thấy được điểm yếu của mình để sửa chữa. Phát huy điểm mạnh, hạn chế điểm yếu cần đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng.

Kĩ năng tư duy sáng tạo: Cuộc sống không phải lúc nào cũng theo ý muốn của chúng ta, hoàn cảnh đôi khi sẽ đẩy chúng ta đến những vấn đề phức tạp, lúc này cần suy nghĩ để tìm ra cách thích ứng và giải quyết tốt nhất chứ không như con ếch khi ra khỏi giếng, không suy nghĩ, giữ cách sống bảo thủ mà phải mất mạng. Bài học Kĩ năng sống rút ra là cần thích ứng nhanh với môi trường sống mới, mà muốn thích ứng được thì phải suy nghĩ, tư duy, sáng tạo.

Để việc giảng dạy kĩ năng sống thông qua việc học các tác phẩm văn học nói chung, truyện ngụ ngôn nói riêng đạt hiệu quả, từ thực tế giảng dạy kết hợp với kinh nghiệm gắn bó bộ môn Ngữ văn 6 trong chương trình THCS; qua tìm tòi, nghiên cứu, tôi thấy có một số phương pháp giáo dục kĩ năng sống đạt hiệu quả như sau:

1. Phương pháp động não:

Động não: phương pháp giúp cho học sinh trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Ở phương pháp này, giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề (có nhiều cách trả lời) cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm. Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt. Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp trẻ dễ hoà nhập vào cộng động nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt.

2. Thảo luận nhóm:

Như bản thân tiêu đề của phương pháp đã ngụ ý thực chất của phương pháp này là để học sinh bàn bạc, trao đổi trong nhóm nhỏ. Thảo luận nhóm được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho mọi học sinh tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết một vấn đề có liên quan đến bài học đồng thời cũng phát huy được kĩ năng giao tiếp, hợp tác, ra quyết định….

3. Phương pháp đóng vai:

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định. Đây là phương pháp giảng dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em quan sát được. Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này và hơn thế điều quan trọng nhất là sự thảo luận sau phần diễn ấy.

4. Phương pháp nghiên cứu tình huống:

Nghiên cứu tình huống thường là một câu chuyện được viết nhằm tạo ra một tình huống “thật” để minh chứng một vấn đề hay loạt vấn đề. Đôi khi nghiên cứu tình huống có thể được thực hiện trên video hay một băng cátset mà không phải trên dạng chữ viết. Vì tình huống này được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của cuộc sống thực, nó phải tương đối phức tạp, với các dạng nhân vật và những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản. Phương pháp này giúp học sinh rèn kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng ra quyết định hay hợp tác…

5. Phương pháp trò chơi:

Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh tìm hiểu một vấn đề hay thực hiện. Qua trò chơi, lớp trẻ không những được phát triển về các mặt trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ mà còn được hình thành nhiều phẩm chất và hành vi tích cực. Chính vì vậy, trò chơi được sử dụng như là một phương pháp dạy học quan trọng về kĩ năng sống như kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tư duy sáng tạo, làm chủ bản thân…

Qua việc tiến hành soạn giảng, kết hợp các biện pháp đề xuất thực tế, kết quả giảng dạy giáo dục kĩ năng sống cho đối tượng học sinh khối 6 trong năm học 2019 - 2020 và tiếp tục thực hiện trong những năm học tới, đã đạt được những kết quả khả quan nhất định như sau:

Về phía giáo viên: chủ động nắm vững các công cụ giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, linh hoạt hơn khi đặt ra những câu hỏi và dẫn dắt các em thảo luận nhóm để tìm ra hướng giải quyết tích cực; đưa ra các tình huống để các em sắm vai và khám phá ra những cách giải quyết vấn đề; tổ chức những trò chơi để thông qua trò chơi các em sẽ được rèn luyện những kỹ năng cần thiết cho mình; có thêm vốn sống để đồng hành và định hướng cho các em, giúp các em xây dựng được năng lực tâm lý xã hội để từ đó các em có thể giải quyết hiệu quả những vấn đề của mình.

Về phía học sinh: Là học sinh đầu cấp, các em bước đầu đã nhận thức được các kĩ năng sống, hiểu được mục đích của giáo dục kĩ năng sống trong nhà trường, từ đó chủ động hơn, biết mình là ai, mình muốn gì, có mục đích gì trong cuộc sống, biết dung hòa giữa cái tôi và ta, có những chọn lựa và quyết định kịp thời . Học sinh còn được rèn các kỹ năng như: ý thức về bản thân, thông cảm với người khác, suy nghĩ sáng tạo và có phán đoán, giải quyết vấn đề và giao tiếp có hiệu quả hơn ...

Kết luận: Có thể nói, học sinh chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là những người sẽ quyết định sự phát triển của đất nước. Khi có kĩ năng sống, các em sẽ luôn vững vàng trước thử thách, biết ứng xử, giải quyết vấn đề một cách tích cực và phù hợp, làm chủ được chính mình. Ngược lại nếu thiếu kĩ năng sống, các em sẽ thường bị vấp váp, dễ thất bại, chậm trễ trong khâu tự quyết định nên hay lỡ mất cơ hội… Do vậy giáo dục thế hệ trẻ không chỉ chú trọng “dạy chữ” mà còn phải quan tâm đúng mức đến nhiệm vụ “dạy người”. Con người không chỉ có tri thức mà còn phải biết sống đúng, sống đẹp, sống có ích. Trong chương trình Ngữ văn 6, việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh bước đầu hình thành và phát triển cho các em khả năng ứng xử phù hợp, phát huy tính tích cực, tự giác, tự chủ, tư duy, sáng tạo, có ý thức vươn lên trong học tập. Đó chính là chìa khóa giúp các em thành công trong cuộc sống sau này.

 

 

Thái Hòa, ngày  16  tháng 10 năm 2019

                                                           Tác giả

                                                           

                                                              Phạm Văn Bình

Phạm Văn Bình – Trường TH & THCS Thái Hòa – Ngữ Văn 6 – Ngày soạn:    /10 /2019

 

CHỦ ĐỀ 5: TRUYỆN DÂN GIAN – TRUYỆN NGỤ NGÔN

 Tuần 8 - Tiết 30                                         

             

                    VĂN BẢN

THẦY BÓI XEM VOI

(Truyện ngụ ngôn)

 

Ngày dạy :      /     / 2019

 

A. MỤC TIÊU BÀI HỌC.

1. Kiến thức: giúp HS nắm được

    - Đặc điểm nhân vật, sự kiện, cốt truyện trong một tác phẩm ngụ ngôn.

    - Ý nghĩa giáo huấn sâu sắc của truyện ngụ ngôn.

    - Cách kể chuyện ý vị, tự nhiên, độc đáo.

2. Kỹ năng:

    - Đọc - hiểu văn bản truyện ngụ ngôn.

    - Liên hệ các sự việc trong truyện với những tình huống, hoàn cảnh thực tế.

    - Kể diễn cảm truyện Thầy bói xem voi.

    - Kỹ năng sống: Tự nhận thức giá trị của cách ứng xử khiêm tốn, dũng cảm, biết học hỏi trong cuộc sống.

3. Thái độ:

    - Giáo dục HS có ý thức nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng xung quanh một cách toàn diện.

4. Phát triển năng lực:

     Giúp học sinh phát triển một số năng lực:

   - Giao tiếp: phản hồi/ lắng nghe tích cực, trình bày suy nghĩ/ ý tưởng, cảm nhận của bản thân về giá trị nội dung, nghệ thuật và bài học của truyện ngụ ngôn.

   - Năng lực làm chủ và phát triển bản thân: Năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo.

   - Năng lực xã hội: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động nhóm.

   - Năng lực công cụ: Năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực đọc hiểu, năng lực cảm thụ, năng lực diễn đạt.

 B. CHUẨN BỊ:

    2. Giáo viên:

      - Phương pháp: Giải quyết vấn đề, vấn đáp, phân tích, bình, hợp tác nhóm.

      - DĐH: Giáo án, SGK, tài liệu tham khảo, đồ dùng trợ giảng.

      - Tích hợp kiến thức liên môn:

                                + Môn GDCD 6: Bài 8/ Sống chan hòa với mọi người.

                                + Môn GDCD 7: Bài 7/ Đoàn kết tương trợ.

                                + Môn mĩ thuật 6: Vẽ tranh, vẽ trang trí màu sắc.

    1. Học sinh:

        - SGK , vở ghi, vở soạn, vở bài tập, vẽ hoặc sưu tầm tranh ảnh có liên quan tới bài học.

       - Sưu tầm những thành ngữ tương ứng với câu chuyện “Thầy bói xem voi”.

       - Tìm hiểu và đọc một số truyện ngụ ngôn trong cuốn: «Tập truyện ngụ ngôn giáo dục kĩ năng sống» của NXB VHTT, Bùi Văn Trực biên soạn. Đây là cuốn sách của trung tâm huấn luyện kỹ năng sống Phù Sa Đỏ.

 C. TIẾN TRÌNH DẠY - HỌC:

  1. Ổn định: GV kiểm tra sĩ số HS (1’)

 2. Kiểm tra bài cũ : (3’)

? Bức tranh gợi cho em liên tưởng tới văn bản nào? Qua câu chuyện đó em rút ra bài học gì?

Đáp án:

  Bài học rút ra từ câu chuyện “Ếch ngồi đáy giếng”:

   - Phê phán: những kẻ hiểu biết hạn hẹp mà lại huênh hoang.

   - Khuyên nhủ: người ta phải biết mở rộng tầm hiểu biết, không được chủ quan, kiêu ngạo.

3. Bài mới:    

GV: Trước khi vào bài mới, mời các em đến với tình huống đối thoại sau: (1’)

Cuộc trò chuyện giữa ba bạn HS với nhau

- Có một bạn hỏi: Này! Các bạn thấy khu du lịch sinh thái Cồn Đen như thế nào?

- Một bạn trả lời: Khu du lịch sinh thái Cồn Đen giống như bể bơi (Bạn đó chỉ đến tắm bể bơi).

- Một bạn khác nói: Không đúng! Khu du lịch sinh thái Cồn Đen giống như công viên với nhiều trò chơi thích thú (Bạn chỉ đến tham quan khu công viên).

- Một bạn khác lớn tiếng: Các bạn nói sai hết khu du lịch sinh thái Cồn Đen đẹp nhất miền Bắc với cảnh quan trải dài, bao gồm các bãi cát mịn và khu vực nuôi ngao; được ví như nàng thiếu nữ ngủ quên đã lâu nay mới được đánh thức (Bạn chỉ đến tham quan ngoài bãi biển).

Không bạn nào chịu nhường bạn nào, các bạn quay ra cãi vã nhau inh ỏi.

HS: Các bạn đã bàn luận về đối tượng nào? Em đồng ý với ý kiến của bạn nào?

GV: Qua chia sẻ của các bạn, chúng ta thấy mỗi người lại có cách nhìn nhận và dánh giá khác nhau về cùng một đối tượng khu du lịch sinh thái Cồn Đen. Như vậy, để có những nhận định, dánh giá đúng đắn về bất cứ sự vật, hiện tượng, con người nào đó thì ta phải xem xét chúng ở những góc độ như thế nào? Đây là một vấn đề khá thú vị trong tiết học ngày hôm nay. Chủ đề 5 – Tiết 30 – Văn bản: Thầy bói xem voi.

HOẠT ĐỘNG CỦA GIÁO VIÊN

HOẠT ĐỘNG CỦA HỌC SINH

I. Đọc – Hiểu chú thích: (10’)

1. Đọc và kể:

- GV hướng dẫn cách đọc:

 + Giọng người dẫn truyện: rõ ràng, rành mạch, khách quan.

 + Giọng 5 ông thầy bói: giọng của các thầy khác nhau nhưng ai cũng quả quyết, tự tin, hăm hở nhận định của mình về con voi.

? GV phân vai và cho HS đọc ?

? GV nhận xét cách đọc của HS ?

* Kể tóm tắt:

 - GV gọi hs lại truyện ?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

GV yêu cầu HS về nhà tóm tắt lại truyện hoặc tập phân vai đóng kịch ?

GV: Để tiếp cận văn bản một cách rõ ràng hơn, chúng ta cùng tìm hiểu một số từ khó. Chuyển sang phần 2/

2. Chú thích:

? Em hiểu thế nào là nghề thầy bói ?

? Giải nghĩa từ: chuyện gẫu, đòn càn, quạt thóc, chổi sề ?

? Ngoài ra, thầy sẽ giải thích cho các em 3 từ khó không có trong sách giáo khoa: Phàn nàn, hình thù, quản voi.

GV: đây là một số hình ảnh mang tính chất minh họa những sự việc trong bài đọc. (thầy bói, quạt thóc, đòn càn, cột đình, chổi sể).

 

II. Đọc – Hiểu văn bản: (23’)

1. Cấu trúc văn bản:

? Theo em, phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì ? vì sao… ?

GV: vì, nó kể các nhân vật và sự việc…

? Các nhân vật trong truyện này có gì khác với các nhân vật trong truyện Ếch ngồi đáy giếng ?

? Trong truyện có mấy nhân vật ? đó là những nhân vật nào ?

? Dựa vào kiến thức trong bài « ngôi kể trong văn tự sự » các em đã được học, cho thầy biết truyện ở đây được kể theo ngôi thứ mấy ?

 

? Văn bản TBXV là một truyện ngụ ngôn được kết cấu bằng ba sự việc:

    + Các thầy bói xem voi.

    + Các thầy bói phán về voi.

    + Hậu quả của việc xem và phán về voi.

Tương ứng với ba sự việc đó là các đoạn truyện nào trong văn bản ?

 

? Các sự việc đó diễn ra theo quan hệ nhân quả.

Em hãy chỉ ra các quan hệ này ?

 

 

 

* Như vậy có 2 kết quả:

- Kết quả 1: Nhận thức sai sự vật.

- Kết quả 2: đánh nhau toác đầu.

? Theo em kết quả nào có hại hơn ?

GV: Cho nên, câu chuyện này được nhân dân lao động sáng tác ra để khuyên răn con người ta về cách nhận thức sự vật.

   Vậy cụ thể, cuộc trò chuyện của năm ông thầy bói đi xem voi diễn ra như thế nào, thầy và các em cùng đi tìm hiểu sang mục 2/

 

2. Nội dung văn bản.

a. Các thầy bói xem voi:

? Mở đầu câu chuyện, tác giả dân gian đã giới thiệu các thầy bói đều có đặc điểm gì giống nhau ?

? Như vậy ở đây, các thầy bói nảy ra ý định xem voi trong hoàn cảnh nào ?

 

 

 

? Em có nhận xét gì về hoàn cảnh xem voi của các thầy?

 

? Như vậy việc xem voi ở đây đã có sẵn dấu hiệu nào không bình thường ?

 

GV bình: Như vậy các thầy xem voi chỉ để thỏa trí tò mò, xem voi chẳng qua để vui chuyện tán gẫu chứ không hề có ý định nghiêm túc.

GV bình: Thế mới là chuyện ngược đời đáng lẽ ra, các thầy bói đi xem bói phải được tiền nhưng một chuyện hết sức nghịch lí là năm ông thầy bói lại phải mất tiền mới được xem voi, đáng lẽ ra đã là thầy bói thì cái gì cũng phải biết, thế ngay đến con voi còn không biết thì còn xem bói cho ai. Thế nên tình huống này, đã khiến người đọc phải bật cười.

 

? Vậy theo em, các thầy đã xem voi bằng cách nào ?

- Dùng tay để sờ hay nói cách khác là xem voi bằng tay.

GV bình: Là người mù cho nên các thầy không thể nhìn được thế giới muôn loài phong phú. Họ phải xem xét vạn vật bằng tay. Các thầy xem voi chỉ qua bộ phận mà mình sờ được, xem bằng những cảm nhận từ đôi tay.

GV: Thông thường người ta thường nói “xem tận mắt” thầy bói mù không nhận biết được mọi vật xung quanh bằng thị giác chỉ nhận biết bằng các giác quan còn lại.

? Theo em, các thầy đã sờ được những gì ở con voi ?

HS : Theo dõi lại câu cuối của đoạn ?

     «Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi »

? Em có nhận xét về hình thức sử dụng từ ngữ của câu có gì đặc biệt ?

 

? Việc lặp lại như vậy có những tác dụng gì trong việc diễn tả cách xem voi của các thầy bói ?

 

 

 

GV bình: Cho nên câu chuyện mở đầu bằng một tình huống độc đáo, gây hứng thú có người đọc: Thầy bói xem voi (hình thù con voi).

GV bình: Trong thực tế đối với những vật nhỏ bé như viên phấn, cục tẩy, ta cũng có thể xem chúng bằng cảm nhận từ đôi tay. Nhưng đối với những sự vật to lớn như con voi, kích thước của nó ngoài tầm tay của chúng ta thì có mấy ai dùng tay để xem voi. Qủa thật cách xem của các thầy bói thật oái oăm khác thường.

? Mượn chuyện xem voi oái oăm này, nhân dân muốn biểu lộ thái độ gì đối với thầy bói ?

- Chuyển ý: Buồn cười nhất ở đây là mất tiền để xem voi, thế rồi lại xem bằng cách sở. Cho nên, dân gian thường có câu: «trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một sờ». Cả năm thầy đếu rất phấn khởi vì đã tận tay sờ voi. Xem voi như thế, vậy thì các thầy phán về voi ra sao. Ta sang phần b.

 

b. Các thầy bói phán về voi:

? Theo dõi phần 2 của văn bản, Em hãy cho biết sau khi sờ tận tay các thầy bói lần lượt phán về voi như thế nào ?

 

 

 

 

 

 

 

GV bình: Thông qua cảm nhận và trí tưởng tượng riêng, mỗi thầy lại có những nhận định khác nhau về hình thù của con voi. Ta cùng quan sát lại hình thù của con voi thật trong đời sống. (chiếu hình ảnh voi thật).

? Vậy có thầy nào nói đúng về voi không?

 

? Trong nhận thức của các thầy về voi có phần nào hợp lí không? Vì sao?

 

THẢO LUẬN

? Tại sao cùng chung một cách một cách xem voi mà các thầy lại có những ý kiến khác nhau như thế? Lời phán đoán của các thầy đã đúng ở chỗ nào, sai ở chỗ nào?

GV bình: Phán đoán của các thầy chỉ đúng với một bộ phận mà họ đã sờ được ở con voi. Còn cái sai của họ là ở chỗ, ai cũng chỉ sờ được một bộ phận của voi mà đã vội kết luận về toàn bộ hình dáng của nó. Mỗi bộ phận ấy, không thể đại diện cho toàn thể thân hình con voi. Hình dáng con voi thực sự là tổng hợp những nhận xét của cả năm thầy.

 

? Vậy nguyên nhân dẫn đến những phán đoán sai lầm của các thầy là gì?

 

GV bình: Cả năm thầy đề rất phấn khởi, vì đã thỏa mãn, đã xem xong được con voi. Hơn nữa từng thầy ai cũng được xem tận tay, sờ tận nơi, cụ thể, rõ ràng, nên ai nấy đều hoàn toàn tự tin vào nhận xét “nói có sách, mách có chứng” của mình.

GV: Các thầy bói sai ở phương pháp nhận thức sự vật: Lấy từng bộ phận riêng lẻ của voi để định nghĩa về voi, nghĩa là sai tư duy chứ không đơn giản là sai ở con mắt.

- Nhận thức đã sai nhưng thái độ cuả các thầy bói khiến nhận thức của họ càng sai hơn.

 

? Thái độ của các thầy được thể hiện qua  những lời nói nào?

 

 

 

 

? Với thái độ đó của các thầy bói, thì ở đây tác giả dân gian còn sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Nêu tác dụng của chúng?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

? Cho biết những lời nói đó thể hiện thái độ gì của các thầy khi phán về voi ?

 

GV bình: Cả năm thầy đều ra sức khẳng định ý kiến của mình về con voi là đúng và nhất định không ông nào chấp nhận ý kiến của ông nào, cứ người phán sau bác bỏ phủ định ý kiến của người phán trước.

? Như vậy, qua sự việc các thầy bói xem và phán về voi, em có nhận xét gì về cách nhìn nhận và đánh giá sự của họ?

GV bình: Truyện không nhằm nói cái mù thể chất mà muốn nói đến cái mù về nhận thức của các thầy bói khi nhìn nhận đánh giá sự vật.

GV bình: Ta thấy các thầy đã không tìm được tiếng nói chung sau khi phán voi. Cuộc trò chuyện bỗng chốc đã trở thành cuộc chiến gay gắt, bất phân thắng bại, chẳng ai chịu ai, vì ai cũng quả quyết chỉ có mình mới là người duy nhất đúng. Kết cục của nó ra sao, chúng ta cùng chuyển sang mục (C)…

 

c. Hậu quả của việc xem và phán về voi.

? Tất cả các thầy đều nói sai về hình thù con voi nhưng ai cũng cho rằng mình đúng. Nhận thức sai lầm của các thầy đã dẫn đến hậu quả như thế nào?

 

 

 

 

 

 

 

? Để tô đậm cái sai lầm, chủ quan của các thầy bói dẫn đến hậu quả đáng tiếc, tác giả dân gian sử dụng nghệ thuật gì?

      A. So sánh

      B. Từ ngữ giàu hình ảnh

      C. Phóng đại

GV bình: Cuộc xô xát là không tránh khỏi vì các thầy bói đều rất bảo thủ, người nào cũng khư khư bảo vệ ý kiến của mình là đúng, bác bỏ tất cả những ý kiến của những người khác.

  Dùng lời không xong, cuộc tranh luận phải tan vỡ phải dùng đến “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Kết thúc chuyện thật hợp lí, thật buồn cười, nhưng cũng để lại cho chúng ta một bài học về nhận thức

 

? Qua câu chuyện này, nhân dân ta muốn thể hiện thái độ gì đối với cách xem và phán về voi của các thầy bói?

 

 

 

GV bình: Những ông thầy bói luôn tự xưng mình là những nhà thông thái, biết trước tương lai, nhìn rõ về quá khứ. Nhưng thực chất các thầy nhìn nhận đán giá sự vật rất hồ đồ, chủ quan, có thể dẫn đến những sai lầm hậu quả đáng tiếc Trong ca dao có rất nhiều bài ca mỉa mai, châm biếm nghề thầy bói hết sức thú vị. Trong ca dao cũng đã có rất nhiều bài ca phê phán thầy bói hết sức thú vị như: “Số cô chẳng giàu thì nghèo… Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai”. Đó là bài ca châm biếm cách phán nước đôi của thầy. Cách phán của thầy khẳng định như đinh đóng cột rằng: Số cô chẳng thế này thì thế kia. Nhưng thực chất lời phán của thầy bói là những điều hiển nhiên, vô nghĩa. Hay như:

        Chập chập thôi lại cheng cheng

    Con gà trống thiến để riêng cho thầy

             Đơm xôi thì đơm cho đầy

Đơm vơi kẻo thánh nhà thầy mất thiêng.

-           Xem bói ra ma, quét nhà ra rác -             Tử vi xem số cho người

      Số thầy thì để cho ruồi nó bâu (bu

à Truyện “Thầy bói xem voi” đã góp thêm một tiếng cười chế giễu nhẹ nhàng mà vô cùng thâm thúy đối với cách nhìn nhận đánh giá sai lầm của người thầy bói.

? Từ câu chuyện xem và phán voi của năm ông thầy bói, em rút ra được bài học gì cho bản thân khi nhìn nhận và đánh giá sự vật con người trong cuộc sống?

 

? Vậy chúng ta có nên tin vào bói toán không ? Khi thấy một hiện tượng mê tín dị đoan ta phải làm gì?

? Em hãy miêu tả con voi giúp năm ông thầy bói để các ông biết rõ về voi

 

3. Ý nghĩa văn bản

a. Nghệ thuật:

? Những nét nghệ thuật đặc sắc nào góp phần tạo nên sức hấp dẫn của câu chuyện?

 

GV: Mượn truyện không bình thường của con người để khuyên răn con người một bài học sâu sắc nào đó trong đời sống (ở đây là bài học về cách nhận thức sự vật).

 

b. Nội dung:

? Khái quát lại nội dung ý nghĩa của bài học hôm nay?

 

 

* Tích hợp kiến thức liên môn:

 + Môn GDCD 6: Bài 8/ Sống chan hòa với mọi người.

 + Môn GDCD 7: Bài 7/ Đoàn kết tương trợ.

 + Môn mĩ thuật 6: Vẽ tranh, vẽ trang trí màu sắc.

 - Từ đó, giáo viên liên hệ giáo dục học sinh ý thức đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lần nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống lao động.

 

? Truyện ngụ ngôn này đã trở thành một thành ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội ?

Đó là thành ngữ nào ?

* Ghi nhớ: SGK - 103

- GV gọi hs đọc nghi nhớ SGK – 103

 

III. Luyện tập: (5’)

* Bài tập vận dụng:

Câu 1: Những tình huống nào ứng với câu thành ngữ “Thầy bói xem voi” ?

A. Cô ấy có mái tóc đẹp, bạn kết luận cô ấy đẹp.

B. Một lần em không vâng lời mẹ, mẹ buồn và  trách em.

C. Bạn An chỉ vi phạm một lần không soạn bài, lớp trưởng cho rằng bạn ấy học yếu.

D. Bạn em hát không hay, cô giáo nói rằng bạn ấy không có năng khiếu về ca hát.

Câu 3: Là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường chúng ta phải làm gì để có kiến thức, có phương pháp nhận thức dúng đắn khi xem xét sự vật xung quanh?

Câu 4: Giải quyết tình huống:

     A và B học chung một lớp. Một hôm, A không tìm thấy chiếc bút mới mua đâu cả. Do nghi ngờ B lấy cắp nên A đã chửi B và còn rủ bạn đánh B.

   Theo em, hành động của A là đúng hay sai? Vì sao? Nếu em là B, em sẽ làm như thế nào?

  Bài 5: (SGK – T103)

    Kể một số ví dụ của em hoặc của các bạn về những trường hợp mà em hoặc các bạn đã nhận định, đánh giá sự vật hay con người một cách sai lầm theo kiểu “Thầy bói xem voi” và hậu quả của những đánh giá sai lầm nay?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Bài tập tìm tòi, mở rộng.

Câu 6: Em biết câu tục ngữ ca dao nào có nội dung chế giễu, phê phán thầy bói và nghề bói ?

- Chập chập thôi lại cheng chen...

Đơm vơi kẻo thánh nhà thầy mất thiêng

- Xem bói ra ma, quét nhà ra rác.

- Tử vi xem số cho người

Số thầy thì để cho ruồi nó bâu.

 

 

 

- HS nghe.

- HS đọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS đọc tóm tắt:

- Năm ông thầy bói ế hàng, chung tiền xem voi rùi bàn tán:

+ Ông sờ vòi bảo voi như con đỉa sun sun.

+ Ông sờ ngà bảo nó như cái đòn càn.

+ Ông sờ tai bảo nó như cái  quạt thóc.

+ Thầy sờ chân thì bảo nó như cái cột đình.

+ Thầy sờ đuôi nói voi như cái chổi sể cùn.

- > Không ai chịu ai, thành xô xát, đánh nhau toác đầu chảy máu.

 

 

 

 

 

 

- HS dựa vào chú thích SGK trả lời.

 

 

- HS quan sát, lắng nghe.

 

 

- Hs quan sát.

 

 

 

 

 

 

- PTBĐ chính : Tự sự.

 

 

- Nhân vật là những con người.

 

 

- 5 nhân vật – 5 ông thầy bói.   

 

- Truyện được kể ở ngôi kể : thứ 3

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Đoạn 1: từ đầu đến sờ đuôi

- Đoạn 2: tiếp đến chổi xể cùn

- Đoạn 3: còn lại

 

 

- SV1 là nguyên nhân.

- SV2 là kết quả.

- SV 1+ 2 là nguyên nhân.

- SV3 là kết quả của sự việc 1 + 2.

 

 

 

- Nhận thức sai sự vật.

- Hs nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Các thầy bói đều bị mù.

- Chưa biết gì về hình thù của voi.

 

- Hoàn cảnh:

     + Ế hàng, ngồi tán gẫu với nhau.

     + Nhân tiện thấy có voi đi qua năm thầy chung tiền biếu người quản voi để cùng xem.

- Hoàn cảnh xem voi không hề có ý nghiêm túc.

 

- Người mù mà lại muốn xem voi.

- Vui chuyện tán gẫu, chứ không có định nghiêm túc.

- Hs nghe.

 

 

 

- Hs nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Các thầy dùng tay sở để xem voi.

- Thầy thì sờ vòi, thầy thì sờ ngà, thầy thì sờ tai, thầy thì sờ chân, thầy thì sờ đuôi.

- Hs nghe.

 

 

 

 

 

- Hs nghe.

 

 

 

 

- Mỗi thầy chỉ sờ một bộ phận của voi.

 

 

 

 

 

- Lặp lại cụm từ : « Thầy thì sờ….»

 

 

- Cả năm thầy đều chung một cách xem voi, việc lặp lại cụm từ đó đã nhấn mạnh cách xem voi lạ đời của cả năm ông thầy bói.

- Từ đó, cho thấy các thầy bói có cách xem voi không bình thường.

- Hs nghe.

 

 

 

- Hs nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

- Giễu cợt, phê phán cách xem voi của các thầy bói.

 

- Hs nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Thầy sờ vòi-> Voi  sun sun như con đỉa

- Thầy sờ ngà-> Voi chẫn chẫn như cái đòn càn.

  •  Thầy  sờ tai-> Voi bè bè như cái quạt thóc

- Thầy sờ chân-> Voi sừng sừng như cái cột đình

- Thầy sờ đuôi-> Voi tun tủn như cái chổi sể cùn

 

 

 

 

 

- HS nghe, quan sát.

- Voi chẳng giống đỉa, cũng không giống đòn càn, càng chẳng giống quạt thóc, cột đình hay chổi sể cùn.

- Có một phần hợp lí.

- Vì, dù sao các thầy cũng đã trực tiếp tiếp xúc với voi.

 

- Đúng: Khi nói về một bộ phận con voi.

- Sai: Chỉ sờ được một bộ phận của con voi mà khẳng định đó là cả con voi.

 

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

                     

 

 

-> Các thầy bói đều lấy bộ phận của con voi để chỉ toàn thể hình thù của nó.

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

+ Tưởng … thế nào ... hoá ra ...

+ Không phải, ...

+ Đâu có!...

+ Ai bảo !...

+ Các thầy nói không đúng cả! Chính nó..

- Sử dụng hàng loạt kiểu câu phủ định nhằm tăng kịch tính của câu chuyện.

- Sử dùng một loạt các từ láy gợi hình: Sun sun, chằn chẵn, bè bè, sừng sững, tun tủn.

- Phép so sánh ví von qua từ “như” (em sẽ được học ở kì II/ với một chủ đề riêng: biện pháp tu từ từ vựng so sánh).

-> Tác dụng: Càng tô đậm sự sai lầm của các ông thầy bói trong cách phán về voi. Không những lời nói rất chủ quan mà còn nhằm phủ định ý kiến của người khác, khẳng định ý kiến của mình. Những lời này khiến nhận thức của các thầy bói thêm sai một cách trầm trọng.

 

-> Các thầy bói đều quả quyết là mình đúng, bác bỏ ý kiến của người khác.

 

- HS nghe.

 

 

 

 

 

=> Đánh giá sự vật chủ quan, phiến diện.

 

 

 

- HS nghe.

 

 

 

 

 

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Các thầy không ai chịu ai,  dẫn đến xô xát đánh nhau toác đầu chảy máu.

- Do không một ai nhận thức được hình thù  con voi.

- Chính những hậu quả đó đã dẫn đến hai tai họa lớn:

   + Hại về thể chất.

   + Hại về tinh thần.

 

 

 

- A

-> Châm biếm, đã kích -> gây cười.

 

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Thái độ mỉa mai, châm biếm đối với cách nhìn nhận đánh giá của năm ông thầy bói.

=> Thái độ mỉa mai, châm biếm cách nhìn nhận đánh giá của năm ông thầy bói.

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Bài học:

- Muốn đánh giá đúng về sự vật phải xem xét nó một cách toàn diện.

- Phải biết lắng nghe ý kiến người khác và xem lại ý kiến của mình không nên chủ quan, bảo thủ.

 

- HS tự bộc lộ.

 

 

 

- HS tự bộc lộ.

 

 

 

 

 

 

- Cốt truyện  ngắn gọn nhưng có ý nghĩa giáo huấn sâu sắc.

- Dựng đối thoại tạo nên tiếng cười hài hước, kín đáo.

- HS nghe.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Chế giễu cách xem và phán voi của năm ông thầy bói

-  Phải có cái nhìn bao quát, toàn diện khi nhìn nhận đánh giá sự vật hiện tượng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Thầy bói xem voi.

- Thấy cây mà chẳng thấy rừng.

 

 

- HS đọc.

 

 

 

 

 

 

- A.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- Phải học tập một cách siêng năng, chăm chỉ, không ngừng trao dồi kiến thức để tự hoàn thiện bản thân mình để có cách nhìn nhận đúng nhất về sự vật, con người, xung quanh chúng ta.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- HS tự bộc lộ.

- Gợi ý: Khi em nghe được chuyện bạn An đã lấy cắp tiền của bạn Minh trong lớp, em đã vội vàng tin ngay dù không được chứng kiến điều đó. Chính vì vậy, em đã nghĩ bạn An là người không trung thực và không chơi với bạn từ đó. Các bạn trong lớp thường xuyên bàn tán và xa lánh An khiến bạn buồn khi bị cô lập. Đến vài ngày sau, khi Minh tìm được số tiền đó và An đã được minh oan.

- Hậu quả: Em cảm thấy rất hối hận khi đã vội vàng kết luận về người khác dù không biết rõ sự việc. Sự đánh giá vội vàng của em đã dẫn đến những suy nghĩ sai lầm về tính cách và con người của bạn An.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

* Em hãy chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau giữa hai truyện “Ếch ngồi đáy giếng” và “Thầy bói xem voi” ?

 

Ếch ngồi đáy giếng

Thầy bói xem voi

Giống nhau

 

   Đều nêu ra những bài học về nhận thức: nhắc nhở người ta không được chủ quan trong việc nhìn nhận sự vật, hiện tượng xung quanh.

 

 

Khác nhau

      Mượn chuyện loài vật để nói chuyện con người.

    Con người cần phải biết mở rộng tầm hiểu biết, không được kiêu ngạo, coi thường những đối tượng xung quanh.

     Mượn chuyện con người để nói chuyện con người.

     Bài học về phương pháp tìm hiểu sự vật, hiện tượng: Khuyên ta xem xét sự vật một cách toàn diện rồi mới đánh giá.

    

   4. Củng cố: (1’)

    GV hệ thống lại kiến thức toàn bài: bằng bản đồ tư duy

      BẢNG PHỤ

 

THẦY BÓI XEM VOI

                                                                       

SỰ VIỆC 1

Các thầy xem voi

 

 

          SỰ VIỆC 2

Các thầy phán về voi

 

SỰ VIỆC 3

Hậu quả của việc xem voi và phán về voi

        

TÌM HIỂU, ĐÁNH GIÁ SỰ VẬT KHÔNG ĐƯỢC CHỦ QUAN PHIẾN DIỆN

    5. Hướng dẫn học ở nhà: (1’)

     - Học bài, thuộc ghi nhớ.

     - Tập kể diễn cảm truyện?

     - Hs tìm hiểu sưu tầm và đọc một số truyện ngụ ngôn trong cuốn: «Tập truyện ngụ ngôn giáo dục kĩ năng sống» của NXB VHTT, Bùi Văn Trực biên soạn. Đây là cuốn sách của trung tâm huấn luyện kỹ năng sống Phù Sa Đỏ.

     - Soạn bài: Hướng dẫn đọc thêm: Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng

              + Định hướng trả lời các câu hỏi trong phần đọc – hiểu văn bản.

 

  * Rút kinh nghiệm:

 

 

 

Thái Hòa, ngày  16  tháng 10 năm 2019

                                                           Tác giả

                                

                          

                                                              Phạm Văn Bình

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 13
Hôm qua : 58
Tháng 12 : 784
Năm 2019 : 15.786